Vào thời Chúa Giêsu những người Biệt phái và Luật sĩ được coi là những người đạo đức nhất. Và những người đó hầu như đặt ra một tiêu chuẩn, nghĩa là lề luật cho xã hội đương thời. Nhưng khi Chúa đến Chúa buộc người ta phải sống theo tiêu chuẩn lề luật của Ngài.
Không phải là Chúa có mới nới cũ. Một mặt Chúa vẫn giữ lại những lề luật căn bản của đạo cũ “Phi cổ bất thành kim.” Khi nào những luật cũ còn thích hợp, Chúa vẫn duy trì. Chẳng hạn, Chúa vẫn giữ luật lên đền thờ Giêrusalem hằng năm, nộp thuế cho đền thờ, Thập giới của Sinai.
Tuy nhiên, khi công bố luật Phúc Âm, Chúa công khai chấm dứt lề luật của các tiên tri, của đạo cũ mà Chúa gọi là ách nặng nề (Mt 11,28), và Chúa chấm dứt lề luật đó qua Gioan Tiền Hô (Lc 16,16): Cho đến Gioan tiền hô là lề luật các tiên tri. Từ bấy giờ nước Thiên Chúa được loan báo và mọi người sấn sả đi vào. Nghĩa là từ thuở khai thiên lập địa đến thời Gioan tiền hô là người ta sống dưới lề luật của Môsê và các tiên tri. Đó là Giao Ước Cũ chuẩn bị cho một Giao Ước Mới và Vĩnh Cửu.
Luật mới này khó khăn hơn, vất vả hơn mà Kinh Thánh diễn tả là phải dùng sức mạnh sấn sả đi vào (Lc 16,16). Cụ thể là những người ngoại giáo, những người thu thuế, Biệt phái và tội nhân cũng đã đi vào đạo Chúa. Họ là những người biết dùng sức mạnh chen lấn đi vào Nước Trời. Sức mạnh ấy là sự từ bỏ mình, từ bỏ cả một thói tục trước đây, từ bỏ cả bằng ý chí, lý trí, tình cảm.
Chúa không chấp nhận lối theo Chúa lừng khừng. Không gì làm Chúa tởm gớm bằng thứ lừng khừng vừa thờ Chúa vừa thờ tiền bạc, vừa đi vừa ngoái cổ lại như bà Lót (St 19,26), vừa cầm cầy vừa ngoái cổ lại, vừa muốn theo Chúa vừa không muốn bỏ tài sản như chàng thanh niên kia (Mc 10,17). Không, Chúa không muốn. Đã tin theo là giữ luật Chúa với cả tâm hồn, cả lòng tin. Rượu của Tin Mừng không thể đem rót vào bình da cũ: không thể giữ luật Phúc Âm với cái vỏ bên ngoài đóng kịch.
Nói được rằng Chúa đến để cho người ta giữ đúng luật. Luật Chúa là khuôn vàng thước ngọc. Chúa đã không bớt xén thì làm sao chúng ta dám thêm bớt đi. Kinh Thánh nói Chúa đến để kiện toàn lề luật. Chúa không hề phản bội luật Môsê; trái lại Chúa cắt nghĩa và công bố rõ ý nghĩa của lề luật. Chẳng hạn, Chúa muốn con người nghỉ ngơi ngày Sabát để lo lắng phần hồn (Mt 12,8). Chúa cấm ly dị bằng luật bất khả phân ly (Mc 10,2). Chúa kiện toàn luật công bình bằng luật bác ái (Mt 5,22). Luật xưa cấm giết người, nhưng Chúa cấm ngay trong tư tưởng, là cấm ganh tị, cấm rủa xả đồ ngốc đồ ngu (Mt 5,21). Luật xưa dạy yêu nhau, nhưng Chúa dạy hãy yêu cả kẻ thù của mình (Mt 5,21)... tất cả đó là Chúa Giêsu đã kiện toàn luật xưa.
Người xưa có luật mà không đem ra thực hành. Ngày xưa luật nào cũng là luật kính (luật của biệt phái). Nay Chúa cho biết chỉ có tình yêu và người giữ luật là người nghe và đem ra thực hành Lời Chúa, Luật Chúa. Chúa công bố: ai nghe và thực hành luật của Ngài là xây nhà trên đá (Mt 7,24), là cha mẹ của Chúa (Mc 5,35), được Thiên Chúa tuyên xưng ngày phán xét chung (Mt 10,32).
Chúng ta dễ có khuynh hướng bảo thủ và sợ khó trước sự đòi hỏi của luật Chúa. Chúng ta muốn theo Chúa để ăn bánh hóa nhiều mà lại không muốn đứng bên Thánh Giá. Nếu ở trần gian này có luật “Đáo giang tùy khúc...” thì muốn vào nước trời thì phải làm sao?
Vào một ngày thứ sáu buộc kiêng thịt, có người tín hữu nọ đi ăn ở quán. Anh biết quán có món cá, nhưng trong lòng thì thích ăn thịt. Thế là anh gọi những món cá mà anh biết chủ quán sẽ trả lời là không có. Rồi anh tự nhủ: "Lạy Chúa, Chúa biết đấy, con đã làm hết cách để gọi nhiều thứ cá mà chẳng có, thôi con đành gọi một tô phở tái để ăn trong ngày thứ sáu buộc kiêng thịt vậy." Cầu nguyện xong, anh thi hành liền. Anh đã tự tạo ra những lý do, những hoàn cảnh để khỏi lỗi luật Chúa.
Nếu không có lòng yêu mến Chúa thật, chúng ta sẽ dễ tạo ra những cách để tự an ủi và chuẩn miễn cho mình khỏi phải tuân giữ luật Chúa, hoặc giải thích lời Chúa theo sở thích riêng.